Bộ Công thương đã có kế hoạch gì để góp phần triển khai EVFTA một cách nhanh chóng và hiệu quả?

Dưới góc độ của Bộ Công Thương, chúng tôi cũng đã kiến nghị Chính phủ chỉ đạo các Bộ, ngành xây dựng các cơ chế thực thi mới phù hợp với Hiệp định EVFTA, có thể triển khai ngay khi Hiệp định được Quốc hội phê chuẩn. Đơn cử như cơ chế về nhóm tư vấn trong nước về phát triển bền vững nhằm huy động sự tham gia rộng rãi của người dân, đoàn thể, các tổ chức đại diện cho tiếng nói của các tầng lớp xã hội cũng như truyền thông vào quá trình hoạch định chính sách. Đây là cơ chế hoàn toàn mới, được xây dựng dựa trên các nền tảng hoạt động của một nhà nước kiến tạo, đề cao trách nhiệm giải trình của các cơ quan quản lý nhà nước với người dân, các tổ chức đại diện và cộng đồng doanh nghiệp. Nếu thực hiện được như vậy, Hiệp định EVFTA sẽ không chỉ đem lại lợi ích cho nền kinh tế và doanh nghiệp mà còn đóng góp cho việc nâng cao thu nhập của người lao động, góp phần phát triển kinh tế mang tính bền vững.


Hiệp định EVFTA được ký kết có ý nghĩa như thế nào trong bối cảnh thương mại quốc tế hiện nay?

Trong bối cảnh căng thẳng thương mại quốc tế có chiều hướng gia tăng, cộng hưởng với sự trở lại của chủ nghĩa bảo hộ, đe dọa sự phát triển ổn định của kinh tế thế giới và các khu vực, việc Nghị viện châu Âu thông qua Hiệp định EVFTA đã mang lại nhiều ý nghĩa trên nhiều phương diện, đặc biệt trong hai phương diện chính yếu:

Trên phương diện chính trị, an ninh quốc gia và chiến lược đối ngoại. Trong bối cảnh quốc tế có nhiều diễn biến phức tạp, bản thân nội bộ EU gặp nhiều khó khăn, như sự nổi lên của chủ nghĩa dân túy và bảo hộ mậu dịch, Hiệp định EVFTA thể hiện quyết tâm mạnh mẽ của cả hai bên trong việc thúc đẩy quan hệ song phương, góp phần đưa quan hệ giữa Việt Nam và EU phát triển toàn diện và thực chất hơn. Việc ký kết và phê chuẩn EVFTA là phù hợp với chính sách đối ngoại đa phương hóa, đa dạng hóa và chủ trương của ta trong việc đưa quan hệ với các đối tác lớn, trong đó có EU, đi vào chiều sâu, tăng cường đan xen lợi ích chiến lược, góp phần giữ vững môi trường hòa bình, nâng cao vị thế quốc tế của Việt Nam, tranh thủ sự ủng hộ của EU cho việc thực hiện các mục tiêu kinh tế - xã hội, chính trị, đối ngoại nhiều mặt của Việt Nam hiện nay.

Ở góc độ đa phương, với việc Việt Nam sẽ đảm nhiệm vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020, Hiệp định EVFTA sẽ nâng cao vai trò, vị thế của Việt Nam trong quan hệ EU – ASEAN cũng như tạo hình mẫu cho một Hiệp định thương mại tự do (FTA) giữa ASEAN với EU trong tương lai.

Việt Nam là nước đang phát triển đầu tiên ở khu vực châu Á – Thái Bình Dương có FTA với EU. Điều này khẳng định vai trò và vị thế địa - chính trị quan trọng của Việt Nam trong khu vực, thực sự nâng cao vị thế của nước ta trong khu vực cũng như trên trường quốc tế. Đặc biệt, trong bối cảnh tình hình chính trị - an ninh thế giới và khu vực đang thay đổi nhanh chóng, diễn biến phức tạp, khó lường, Hiệp định EVFTA vừa giúp chúng ta có điều kiện nâng cao nội lực để ứng phó, vừa giúp củng cố vị thế để thực hiện đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa đi đôi với củng cố, tăng cường quốc phòng, an ninh.

Trên phương diện phát triển kinh tế, Hiệp định EVFTA được coi là đòn bẩy cho tăng trưởng. Khi Hiệp định EVFTA chính thức có hiệu lực, thương mại hai chiều và đầu tư từ EU vào Việt Nam được dự báo sẽ tăng trưởng ở mức khá, đóng góp tích cực vào tăng trưởng kinh tế, giải quyết việc làm cho người lao động. Hiệp định thương mại tự do với EU giúp chúng ta có điều kiện nâng cao nội lực để ứng phó tốt hơn với các diễn biến bất lợi trong khu vực và trên trường quốc tế. Hiện nay, EU là một trong số thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch xuất khẩu sang thị trường này năm 2019 đạt 41,48 tỉ USD và nhập khẩu đạt 14,91 tỉ USD. Do vậy, Hiệp định sẽ giúp chúng ta có điều kiện để thúc đẩy xuất khẩu, đa dạng hóa thị trường và thu được giá trị gia tăng cao hơn thông qua việc thiết lập các chuỗi cung ứng mới.


Chúng ta đã có bước chuẩn bị như thế nào để có thể tận dụng tối đa ưu thế khi EVFTA chính thức được thông qua?

Để chuẩn bị cho một giai đoạn mới trong tiến trình hội nhập, ngày 5 tháng 11 năm 2016, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII đã ban hành Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị - xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Nghị quyết đã được triển khai toàn diện nhằm có thể đón đầu các cơ hội từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Để chuẩn bị cho quá trình thực thi Hiệp định EVFTA, Quốc hội Việt Nam đã chính thức thông qua Bộ luật lao động sửa đổi và sẽ đưa vào thực thi kể từ đầu năm 2021. Các nội dung quan trọng nhất của cả 8 Công ước cơ bản ILO đều đã được phản ánh trong các quy định của Bộ luật này. Trên cơ sở đó, ngoài việc tạo ra các lợi ích kinh tế, chúng ta cũng xây dựng các thiết chế để sao cho lợi ích sẽ được chia sẻ một cách công bằng nhất cho người lao động.

Chúng ta cũng đã sửa đổi nhiều quy định pháp luật và xây dựng các chương trình hành động của Bộ, ngành và địa phương khi tham gia Hiệp định CPTPP. Đây là cơ sở rất tốt để tiếp tục rút kinh nghiệm và tăng cường hơn nữa hiệu quả khi thực thi Hiệp định EVFTA.


Những cơ hội cũng như thách thức khi Hiệp định EVFTA được đưa vào thực thi?

Kèm với cơ hội thì việc thực thi Hiệp định EVFTA cũng đặt ra không ít thách thức. Chúng ta vẫn là nước đang phát triển ở trình độ chưa cao, với mức thu nhập bình quân đầu người khoảng 2800 USD và còn khoảng cách so với các nước ASEAN đi trước.

Thứ nhất, sức ép cạnh tranh là thách thức đầu tiên chúng ta cần vượt qua. Tuy nhiên, cạnh tranh cũng được coi là động lực cho các doanh nghiệp liên tục đổi mới và sáng tạo, đồng thời tạo ra thêm nhiều sự lựa chọn cho người tiêu dùng. Cùng với giai đoạn đầu của tiến trình hội nhập, các doanh nghiệp của chúng ta đã có các bước phát triển mạnh mẽ. Ví dụ, giai đoạn đầu chúng ta thực hiện các hiệp định thương mại tự do với Nhật Bản hay Ấn Độ, cũng có tình trạng nhập siêu, nhưng đã chuyển sang thương mại mang tính cân bằng, thậm chí là xuất siêu. Trong khi đó, EU là nền kinh tế mang tính bổ sung cao với Việt Nam, nên tiềm năng khai thác là lớn, trong khi ngành hàng cạnh tranh hay đối đầu trực tiếp rất ít. Thậm chí, do là nơi có tiềm lực công nghệ và hàng hóa có chất lượng cao nên việc tăng nhập khẩu công nghệ nguồn và nhiều mặt hàng từ EU cũng có lợi cho hiệu quả chung của nền kinh tế.

Thứ hai, các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới như Hiệp định EVFTA cũng đặt ra yêu cầu điều chỉnh, sửa đổi các quy định pháp luật. Tuy nhiên, nhu cầu hoàn thiện hệ thống pháp luật cũng được coi là xuất phát từ đòi hỏi phát triển của bản thân nội tại nền kinh tế. Trong thời gian qua, chúng ta đã chủ động sửa đổi nhiều văn bản quy phạm pháp luật quan trọng như Bộ Luật Lao động, Luật Sở hữu trí tuệ... Các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới thúc đẩy để chúng ta làm mới mình, phù hợp với các xu thế phát triển mới trên thế giới.

 Cuối cùng, thị trường EU là một trong những thị trường khó tính, có đòi hỏi cao nhất trên thế giới. Đơn cử như các yêu cầu về lao động, môi trường của EU buộc các doanh nghiệp phải có những tuân thủ nghiêm ngặt. Tuy nhiên, khi thực hiện Hiệp định EVFTA, thay vì từng doanh nghiệp phải xử lý và vượt qua các rào cản này, thì Hiệp định cũng tạo ra các khuôn khổ hợp tác để doanh nghiệp hai bên có thể cùng học hỏi và vượt qua các rào cản trong quá trình thực hiện Hiệp định.


Thông điệp gửi đến doanh nghiệp để thực hiện hiệu quả và đón nhận lợi ích từ EVFTA

Hiệp định EVFTA chắc chắn sẽ mở ra nhiều cơ hội về thương mại, đầu tư, hợp tác mới cho doanh nghiệp hai bên. Đối với doanh nghiệp Việt Nam, trong quá trình đàm phán, Đoàn đàm phán đã tích cực cung cấp đầy đủ thông tin cũng như tham vấn ý kiến của các hiệp hội doanh nghiệp với mong muốn kết quả đàm phán phải đáp ứng được tốt nhất lợi ích của doanh nghiệp. Trong quá trình này, một số hiệp hội như dệt may, da giày, thủy sản và nhiều doanh nghiệp khác đã thể hiện sự quan tâm đặc biệt.

 

Tuy nhiên, có sự khác biệt về sự chuẩn bị giữa các doanh nghiệp. Các doanh nghiệp lớn dường như có sự chuẩn bị tốt hơn so với các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Các doanh nghiệp xuất khẩu dường như tích cực hơn so với các doanh nghiệp phải chịu cạnh tranh từ EU sau khi Hiệp định được ký kết.

 

Do đó, để khai thác được tối đa lợi ích mà hiệp định này mang lại, các doanh nghiệp của chúng ta, đặc biệt là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, cần chủ động nghiên cứu thông tin để có sự chuẩn bị tích cực. Việc chuẩn bị nên được tiến hành toàn diện từ nghiên cứu cơ hội, thách thức của thị trường EU đến các giải pháp như nâng cao chất lượng, mẫu mã sản phẩm; phát huy lợi thế cạnh tranh, tăng hiệu suất, v.v. Cần lưu ý là để tận dụng được ưu đãi từ Hiệp định, doanh nghiệp cần đảm bảo sản phẩm của mình đáp ứng yêu cầu về quy tắc xuất xứ, về tiêu chuẩn kỹ thuật và về vệ sinh an toàn động thực vật của EU.


Các rào cản thương mại và lao động mà Việt Nam sẽ phải đối mặt khi ký kết và phê chuẩn một FTA thế hệ mới như Hiệp định EVFTA

Các FTA thế hệ mới với phạm vi bao quát toàn diện mang lại cho Việt Nam nhiều cơ hội, cùng với đó là không ít thách thức. Trước hết, FTA thế hệ mới đặt ra nhiều thiết chế bắt buộc các nước thành viên phải thực thi, trong đó quan trọng nhất là việc sửa đổi, bổ sung hệ thống pháp luật trong nước cho phù hợp với cam kết tại hiệp định. Do có phạm vi cam kết rộng, bao gồm cả những lĩnh vực phi truyền thống, việc sửa đổi pháp luật trong nước bao gồm không chỉ hệ thống pháp luật liên quan đến mở cửa thị trường hàng hóa, dịch vụ mà cả các lĩnh vực về đấu thầu mua sắm công, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường… Việc sửa đổi pháp luật đòi hỏi nhiều thời gian, nếu không thực hiện kịp thời, ta rất dễ rơi vào trình trạng vi phạm cam kết. Cụ thể trong vấn đề lao động, các hiệp định FTA thế hệ mới đặt ra các tiêu chuẩn, quy định về lao động và thừa nhận mối liên hệ giữa quyền của người lao động với thương mại; quyền tự do liên kết và quyền thương lượng tập thể của người lao động và người sử dụng lao động; xóa bỏ lao động cưỡng bức và lao động bắt buộc; cấm sử dụng lao động trẻ em; xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử về việc làm và nghề nghiệp... Pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về tiền lương tối thiểu, thời gian làm việc và an toàn vệ sinh lao động, lao động trẻ em, bảo vệ môi trường… nhưng trên thực tế những chuẩn mực này đang bị vi phạm ở không ít doanh nghiệp.  Điều này dẫn tới việc chúng ta sẽ không được hưởng mức thuế nhập khẩu ưu đãi từ các nước thành viên nếu không đáp ứng được các tiêu chuẩn theo yêu cầu. Việc Bộ luật lao động sửa đổi được thông qua tại kỳ họp thứ 8, Quốc hội kháo XIV và đi vào thực thi từ ngày 01 tháng 01 năm 2021 cho thấy nỗ lực rất lớn của Chính phủ Việt Nam trong việc chuẩn bị cho việc thực thi các hiệu quả các cam kết trong các FTA thế hệ mới, trong đó có Hiệp định EVFTA.


Về phía các cơ quan quản lý Nhà nước, để tận dụng cơ hội của Hiệp định EVFTA, cần điều chỉnh cơ chế chính sách gì để thích ứng

Tham gia các FTA thế hệ mới như Hiệp định EVFTA có nghĩa là Việt Nam bước vào sân chơi lớn, chấp nhận đương đầu với các khó khăn, thách thức mới để cạnh tranh với các nước lớn. Để thích ứng được với bối cảnh này, cần thực hiện đồng bộ một số giải pháp như:

- Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật theo yêu cầu của hội nhập quốc tế và các cam kết trong các FTA thế hệ mới một cách toàn diện, đồng bộ cả về kinh tế, chính trị. Nhanh chóng rà soát, sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện khung khổ pháp lý cho phù hợp với điều kiện áp dụng hiện hành, đặc biệt chú trọng đến các nội dung phi truyền thống như mua sắm chính phủ, sở hữu trí tuệ, lao động, môi trường... Chú trọng công tác tuyên truyền, phổ biến cho cộng đồng doanh nghiệp và đội ngũ cán bộ nhà nước tại địa phương để đảm bảo hiểu rõ và thực hiện đúng cam kết trong các FTA thế hệ mới;

- Triển khai hoạt động cấp Giấy chứng nhận xuất xứ hàng hóa (C/O) theo hướng đơn giản hóa, hiện đại hóa; đẩy mạnh việc cấp C/O qua Internet;

- Cải thiện môi trường đầu tư, kinh doanh với thể chế ổn định, minh bạch; đẩy mạnh thu hút đầu tư nước ngoài, tận dụng cơ hội chuyển giao công nghệ;

- Tập trung nâng cao năng lực cạnh tranh của từng ngành hàng, phát huy vai trò của các hiệp hội ngành hàng, khuyến khích doanh nghiệp liên kết theo chuỗi sản xuất, tăng cường chất lượng nguồn nhân lực, nâng cao năng suất lao động, nâng cao chất lượng sản phẩm. Giải pháp này cần sự nỗ lực đồng bộ từ cả Nhà nước lẫn doanh nghiệp bằng kế hoạch dài hạn, bài bản;

- Cần có cơ chế cảnh báo sớm để doanh nghiệp có thể chủ động phòng tránh các vụ kiện phòng vệ thương mại. Song song với đó, cần đẩy mạnh việc xây dựng các tiêu chuẩn, quy chuẩn, thương hiệu, nhãn hiệu quốc gia; phát triển và nhân rộng việc thực hiện cấp mã số vùng sản xuất, truy xuất nguồn gốc, đáp ứng khả năng cạnh tranh trong xu thế hội nhập quốc tế;

- Cần có các chính sách xúc tiến thương mại theo từng thị trường, trong cả trung và dài hạn. Tiếp tục đẩy mạnh và chủ động hợp tác với các đối tác nước ngoài, tham gia vào dây chuyền sản xuất cung ứng toàn cầu.


Đối tác